Chất lượng cao cấp từ năm 2002!
Khoa học về thuốc nhuộm phân tán trong nhuộm màu Polyester
Polyester là một loại sợi tổng hợp được đặc trưng bởi tính chất kỵ nước và độ kết tinh cao, giúp nó có khả năng chống lại các loại thuốc nhuộm hòa tan trong nước thông thường. Để đạt được màu sắc sống động và lâu dài, ngành công nghiệp này dựa vào thuốc nhuộm phân tán. Đây là những hóa chất không ion có độ hòa tan trong nước thấp, trong điều kiện nhiệt cụ thể, sẽ thăng hoa hoặc hòa tan vào nền sợi. Do polyester thiếu các nhóm phản ứng để liên kết hóa học nên quá trình nhuộm về cơ bản là một hiện tượng vật lý trong đó các phân tử thuốc nhuộm di chuyển vào chuỗi polymer đã làm mềm của vải.
Đặc điểm chính của thuốc nhuộm phân tán
- Độ bền thăng hoa cao để tránh mất màu trong quá trình cài đặt nhiệt.
- Độ bền ánh sáng và giặt tuyệt vời do thuốc nhuộm bị giữ lại bên trong sợi.
- Kích thước phân tử khác nhau được phân loại thành loại E (năng lượng thấp) và loại S (năng lượng cao).
Phương pháp nhuộm nhiệt độ cao và áp suất cao (HTHP)
Phương pháp công nghiệp phổ biến nhất để nhuộm vải polyester là quá trình HTHP. Vì nhiệt độ chuyển hóa thủy tinh (Tg) của polyester là khoảng 80°C nên sợi vẫn còn quá cứng để thuốc nhuộm thấm vào ở điểm sôi. Bằng cách tăng áp suất và tăng nhiệt độ lên khoảng 130°C, chuỗi polyme có đủ động năng để tạo ra các "khoảng trống" hoặc khe hở. Các phân tử thuốc nhuộm phân tán sau đó khuếch tán vào các khoảng trống này. Khi nhiệt độ hạ xuống, cấu trúc sợi sẽ "đóng lại", khóa màu bên trong dây tóc một cách hiệu quả.
| tham số | Phạm vi tiêu chuẩn | Mục đích |
| Nhiệt độ | 125°C - 135°C | Làm phồng sợi để thuốc nhuộm xâm nhập |
| Độ pH | 4,5 - 5,5 (Có tính axit) | Ngăn chặn sự thủy phân thuốc nhuộm và sự mất ổn định |
| Thời gian nhuộm | 30 - 60 phút | Đảm bảo mức độ và sự cạn kiệt |
Nhuộm nền: Một giải pháp thay thế cho các hỗn hợp nhạy cảm
Trong trường hợp không có thiết bị áp suất cao hoặc vải là loại vải pha trộn mỏng không thể chịu được nhiệt độ 130°C, "chất mang" sẽ được sử dụng. Chất mang là các hợp chất hữu cơ—chẳng hạn như phenol hoặc hydrocacbon clo hóa—được thêm vào bể nhuộm để hoạt động như chất trương nở. Chúng tạm thời làm giảm nhiệt độ chuyển hóa thủy tinh của polyester, cho phép nhuộm xảy ra ở 100°C. Mặc dù hiệu quả nhưng phương pháp này đòi hỏi phải xử lý hậu kỳ kỹ lưỡng để loại bỏ các hóa chất còn sót lại vì chúng có thể có mùi hoặc độc hại.
Các bước quan trọng trong quy trình vận chuyển
- Nhũ hóa chất mang trước khi thêm nó vào dung dịch nhuộm.
- Làm nóng trước vải để đảm bảo hấp thụ chất mang đồng đều.
- Làm sạch giảm mạnh để loại bỏ chất mang và thuốc nhuộm bám trên bề mặt.
Xử lý sau nhuộm: Làm sạch và thiết lập nhiệt
Để đảm bảo chất lượng hoàn thiện cao nhất, polyester phải trải qua quá trình "Giảm thiểu". Trong giai đoạn làm nguội của thuốc nhuộm, một số hạt thuốc nhuộm phân tán chắc chắn vẫn còn trên bề mặt xơ chứ không phải bên trong xơ. Nếu không được loại bỏ, những hạt này sẽ dẫn đến độ bền chà xát kém và màu sắc xỉn hơn. Dung dịch natri hydrosulfite và xút được sử dụng để phá hủy hóa học thuốc nhuộm bề mặt mà không ảnh hưởng đến màu sắc bên trong sợi. Sau đó, cài đặt nhiệt được thực hiện để ổn định kích thước vải và khóa màu cuối cùng.
Khía cạnh thứ yếu nhưng quan trọng của quá trình xử lý sau là sử dụng các chất chống tĩnh điện. Vì polyester dễ bị tĩnh điện nên các lớp hoàn thiện này cải thiện cảm giác cầm tay và độ rủ của vải, khiến vải phù hợp với hàng may mặc cao cấp và hàng dệt gia dụng. Kiểm soát nhiệt độ thích hợp trong giai đoạn sấy cuối cùng là điều cần thiết để ngăn chặn hiện tượng "di chuyển nhiệt", trong đó các phân tử thuốc nhuộm di chuyển trở lại bề mặt, ảnh hưởng đến độ bền giặt đạt được trong giai đoạn làm sạch khử.

Tiếng Anh
简体中文









